Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam

02/09/2013 11:20:11 CH

(Thoisu24h) - Với gần 700 bức ảnh tư liệu quý, cuốn sách ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam” đã phác hoạ một cách chân thực và sinh động toàn bộ quá trình hoạt động, tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

Đó là một phần lời tựa do Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dành cho cuốn sách này.

Cuốn sách được Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành nhân kỉ niệm 68 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Sách dày 306 trang, khổ 23x29cm, in trên giấy couche 150 gr/m2, gồm 2 ngữ Việt và Anh, với gần 700 bức ảnh tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải dài trên nửa thế kỉ từ 5/6/ 1911, ngày Nguyễn Tất Thành dưới cái tên Văn Ba rời cảng Sài Gòn đi tìm đường cứu nước cho đến 2/9/1969, ngày Bác vĩnh biệt chúng ta. Trong đó có nhiều bức ảnh quý lần đầu tiên được công bố.

Ông Mạnh Thường - tác giả cuốn sách tâm sự: Sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể cả trong nước và nước ngoài có đến hàng trăm cuốn, riêng sách ảnh về Người cũng có đến hàng chục, nhưng chưa có một cuốn sách ảnh nào đề cập đầy đủ các hoạt động đối ngoại của Bác.Từ suy nghĩ đó, cách đây 10 năm, Mạnh Thường tập trung sưu tầm tất cả những ảnh nói về các hoạt động ngoại giao của Người.

Để có những bức ảnh này, ông đã tuyển chọn ảnh ở TTXVN, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bộ Ngoại giao Việt Nam và một số cá nhân. Đặc biệt ông đã có 4 chuyến đi nước ngoài để sưu tầm tài liệu. Mạnh Thường đã đến Boston, Mỹ, chụp khách sạn Omni Parker House và chiếc bàn nơi Văn Ba ngày ngày nhào bột nướng bánh.

Ông Mạnh Thường đã đến Milan (Italia) chụp quán Antica Trattoria Della Pesa, nơi Nguyễn Ái Quốc trong những ngày hoạt ở nước ngoài thường đến đây ăn uống. Tác giả cuốn sách cũng đã đến Udon Thani ( Thái Lan), nơi Nguyễn Ái Quốc hoạt động dưới cái tên Thầu Chín. Và chuyến đi cuối cùng đến London, chụp tòa nhà New Zealand, nơi có tấm biển ghi “ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng làm việc nơi đây”. Tòa nhà này được xây dựng trên nền cũ của khách sạn Carton, nơi Văn Ba làm việc trong những năm 1913-1917.

Ảnh minh họa


Cuốn sách "Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam"

Cuốn sách chia làm 4 phần: Phần I: Hành trình đi tìm đường cứu nước

Giới thiệu cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành- Văn Ba- Nguyễn Ái Quốc từ ngày rời Sài Gòn đến khi Bác trở về Tổ quốc qua cột mốc 108, Cao Bằng.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành- Văn Ba rời Tổ quốc với danh phận làm phu bếp trên tàu Đô đốc Latouche Trevill để sang Tây phương tìm đường cứu nước. Trong những năm 1912-1917 Người đã từng đặt chân lên khắp các châu lục. Trong đó Người ở Mỹ, Anh khá lâu và làm đủ mọi nghề để kiếm sống và hoạt động.

Năm 1917,Người trở lại Pháp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.

Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt “Hội người Việt Nam yêu nước” gửi đến Hội nghị Verseilles bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và bản Luận cương của Lenine về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội VIII Đảng Xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, cùng với một số thành viên khác, Nguyễn Ái Quốc lập “Hội Liên hiệp Thuộc địa”. Tháng 4/1922, xuất bản tờ báo “Người cùng khổ” (Le Paria). Năm1924, Người tham dự Đại hội V Quốc tế Công sản họp tại Matxcova.

Trước đó 1923, Người được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Năm 1924, với tư cách là Ủy viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đã đến Quảng Châu ( Trung Quốc). Tại đây Người thành lập “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên”. Tháng 5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Matxcơva.  Tiếp đến Người đến Berlin (Đức), đi Brussel (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại Hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc. Sau đó Người sang Italia và từ đây Người trở lại châu Á.

Từ tháng 7/1928- 11/1929, Người hoạt động ở Thái Lan. Năm 1930, Người chủ trì cuộc họp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long ( Hồng Kông), đến tháng 10/1930 đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 6/1931, Người bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Với sự giúp đỡ của Quốc tế Đỏ và Luật sư F.H. Loseby, năm 1933, Người được trả tự do.

Từ 1934-1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Matxcơva. Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc. Ngày 28/1/194 Người trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài.   

Ảnh minh họa


Lời tựa của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng viết cho cuốn sách "Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền ngoại giao cách mạng Việt Nam"

Phần 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh trực triếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam 

Năm 1942, chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn ác liệt, nhận thức được tầm quan trọng của liên minh quốc tế, đặc biệt là phối hợp với nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật. Ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh. Ngày 27/8/1942, vừa đến Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Ngày 10/9/1942, Người được trả tự do. Trong thời gian bị cầm tù Người đã sáng tác tập thơ “Ngục trung nhật ký” , đầy tinh thần lạc quan.

Trước tình thế cách mạng đã chín muồi, tháng 10/1944, Hồ Chí Minh quyết định thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ngày 22/12/1944, đội “Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời”.

Ngày 14/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Thời cơ khởi nghĩa đã đến. Chiều 16-17/8/1945 Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào. Đại hội bầu cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Ngày 19/8/1945, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong toàn quốc. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là CHXHCN Việt Nam.

Đất nước vừa mới giành được độc lập chưa bao lâu, thì ngày 23/1/9/1945, Pháp đã quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Trước vận nước “ngàn cân treo sợi tóc”, ngày 24/9/1945, Người đã gửi thư cho Tổng thống Truman, tố cáo quân đội Anh đã tiến hành chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và yêu cầu Ngài can thiệp.

Ngày 28/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Mỹ yêu cầu giúp đỡ , ngăn chặn cuộc chiến do Pháp gây ra.

Ngày 14/11/1946,được tin Liên Hợp quốc họp ở London, Người đã gửi thư cho ông H. Spaak, đề nghị công nhận nền độc lập của Việt Nam.

Để có thời gian xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ngày 6/3/1946, Hồ Chủ tịch đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ và nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Hồ Chủ tịch sang thăm chính thức Pháp. Hội nghị Fontainebleau bị thất bại, Phái đoàn Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng về nước, nhưng Bác ở lại, với đường lối ngoại giao khôn khéo, ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước Việt- Pháp. Nhưng chữ ký chưa ráo mực thì quân đội Pháp ra tối hậu thư đòi quân đội ta hạ vũ khí. Ngày 19/12/1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”. Và cuộc kháng chiền kéo dài 9 năm mới chấm dứt với chiến thắng Điện Biên Phủ. Hiệp định Geneve được ký kết, nhưng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phản bội, buộc nhân dân ta một lần nữa đứng lên giải phóng miền Nam thống nhất đất nước với đại thắng mùa xuân năm 1975.

Trong thời gian từ 1954 đến khi Bác qua đời, Hồ Chủ tịch đã thay mặt nhân Việt Nam đi thăm và cảm ơn các nước XHCN và các bạn bè đã hết lòng giúp đỡ Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến.

Phần 3: Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái nhân loại

Khi Người qua đời, nhiều đoàn đại biểu các nước đến viếng và gửi điện chia buồn với Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam và sau khi Người đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhiều đoàn đại biểu các nước, trong đó có cả nguyên Tổng thống Mỹ Bin Clinton, Tổng thống Pháp F. Mitterand, Tổng thống Nga Putin… đã đến tham quan khu di tích ở Phủ Chủ tịch vào lăng viếng Người.

Nhiều nước ngưỡng mộ Người, đã cho dựng tượng Người tại những vị trí trang trọng tại thủ đô của mỗi nước, như Nga, Ấn Độ, Philippin, Mông Cổ…

Phần 4: Các nhà ngoại giao xứng danh học trò Chủ tịch Hồ Chi Minh

Trong những di sản để lại cho đất nước và dân tộc Bác đã dày công xây dựng một đội ngũ các nhà ngoại giao đầy tài năng và bản lĩnh như cụ Hoàng Minh Giám , Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Mạnh Cầm, Phạm Gia khiêm…cho đến Phạm Bình Minh./.


Trần Bình Dân
VnMedia

Ý kiến bạn đọc
Gửi ý kiến
   
  
 
 
   
 
THÔNG TIN CẦN BIẾT
Đặt làm trang chủ

Lên đầu